Thursday, January 19, 2017

Giới thiệu về Osho và các tác phẩm của Osho

Giới thiệu về Osho và các tác phẩm của Osho



Thế kỉ 20 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bực của khoa học và công nghệ làm nền tảng thúc đẩy sự phát triển mới của nhân loại: toàn thế giới đi vào nền kinh tế thông tin và tri thức, xã hội chuyển biến thành xã hội tri thức. Cả trái đất nay đã trở thành như một cái làng, một việc xảy ra ở bất kì ngõ ngách nào trên thế giới thì lập tức toàn thể thế giới đều được biết tới ngay. Nhưng cũng thế kỉ 20 này còn chứng kiến một phát triển vượt bực nữa của tâm thức con người: việc xuất hiện nhiều bậc thầy tâm linh như Gurdjieff, Nisargadatta, J. Krishnamurti, Osho… với những chỉ dẫn phong phú về sự phát triển của con người mới và nhân loại mới.
Một trong các bậc thầy tâm linh được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất vào cuối thế kỉ 20 này chính là Osho. Nhưng điều mà Osho đã giảng giải trong suốt ba mươi năm, thực sự cũng chính là những điều mà Phật, Mahavira, Lão Tử, Trang Tử, Jesus,… những bậc chứng ngộ của quá khứ khác đã nói. Con người hiện đại, tuy có tầm mức trí tuệ và suy diễn cao hơn ngày xưa, lại quá bận rộn với những vấn đề cuộc sống nên không còn thời gian đi vào tìm hiểu các kinh sách cổ với lối diễn giải cổ. Osho chính là người đưa tinh hoa của sự phát triển tâm thức trong các tôn giáo cổ trở lại với thực tế sống động đời thường ngày nay cho mọi người.
Về từ nguyên, osho là một từ cổ Nhật Bản, theo nghĩa tiếng Nhật Bản là “Hoà Thượng”, như chúng ta vẫn dùng từ này khi chỉ các nhà sư Phật giáo, mang ngụ ý “Người Hoà hợp với Thượng giới” hay nói cách khác là hoà hợp với toàn thể sự tồn tại. Một nghĩa khác nữa của từ osho này là “tính đại dương” như đã được Willaim James nêu lên. Cái tên Osho đã được bậc thầy tâm linh Bhagwan Shree Raijneesh (1931-1990) người Ấn Độ, chọn làm tên hiệu chính thức cho mình và đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới.
Tâm linh theo Osho không phải là hệ thống đẳng cấp các lực lượng tinh thần chi phối thế giới vật chất. Trái lại, theo Osho, tâm linh đích thực chính là sự phát triển tâm thức của mỗi người, để sống một cách hoàn toàn tỉnh táo, có ý thức trong mọi suy nghĩ, hành động, tư tưởng, tình cảm của mình. Sự trưởng thành của con người được đánh dấu bằng việc thoát khỏi rất nhiều tầng đồng nhất tâm thức với thân thể mình, với tâm trí mình, với các tục lệ, lề thói xã hội, các ý thức hệ tôn giáo, các mối quan hệ với thế giới xung quanh. Sự phát triển cao nhất của con người, chứng ngộ, không gì khác hơn việc hiểu ra điều đơn giản là không có cái tôi tách biệt để vun vén cho riêng mình, mà chỉ có một cái toàn thể đang vận hành và chúng ta tham gia cùng sự sáng tạo vĩ đại đó để làm cho mọi thứ tốt đẹp nhất có thể được.
Sự phát triển tâm thức hiện đại hoàn toàn không mang nghĩa như việc tu tập của các tu sĩ thời xưa, chỉ quay vào bên trong mình để phát triển nội tâm mà không đóng góp gì về vật chất cho xã hội. Theo Osho, con người mới phải là con người sống trong thế giới này, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, nhưng đồng thời vẫn quan sát mọi suy nghĩ và hành động của mình để không bị lệ thuộc cả vào những lực ngầm xui khiến bên trong mình lẫn những lực thúc đẩy mù quáng bên ngoài. Con người mới phải là con người có cách nhìn toàn diện, thấu hiểu qui luật phát triển của sự tồn tại và hành động theo qui luật đó mà không bị chi phối bởi những ham muốn, những thúc giục của thói ích kỉ cá nhân. Con người mới phải là con người đã nhìn rõ chân tướng mọi ham muốn của mình và thoát khỏi sự chi phối của nó, để có thể trở thành cây sáo trúc hổng mà tạo hoá thổi qua những điệu nhạc du dương.
Sự phát triển tâm thức là nhiệm vụ của riêng từng người, không ai có thể làm thay người khác được, nhưng có những hướng dẫn, có những chia sẻ của những người đã đạt tới dành cho những ai đang khao khát đi tìm cách sống, ý nghĩa của cuộc sống. Và những hướng dẫn, chia sẻ đó đã được Osho thuyết giảng trong suốt 30 năm, đều đặn mỗi ngày Osho nói chuyện với các bạn bè và người tìm kiếm trong hai tiềng đồng hồ. Những bài nói đó đã được ghi âm và ghi hình trong quãng 1800 cuộn băng từ, và được dỡ ra, được ghi lại thành sách. Cho tới nay, đã có hơn 600 đầu sách được chuyển lại như vậy từ các thiết bị đa phương tiện. Osho không phải là nhà văn, Osho không viết mà đó toàn là những bài nói, với các đối tượng cụ thể, hoàn cảnh cụ thể và vấn đề cụ thể.
Osho đã nói và bình luận về gần như toàn bộ tất cả các tôn giáo chính trên thế giới. Nhiều kinh sách kinh điển, thường rất khó hiểu với người đọc, lại trở nên cực kì dễ hiểu qua giảng giải của Osho vì Osho đã dùng ngôn ngữ đời thường, kinh nghiệm của cuộc sống hiện đại để minh hoạ cho những vấn đề có tầm sâu lắng nhất. Từng bài nói của Osho đều chứa đựng nhiều tầng tri thức và kiến giải, và tuỳ khả năng và trình độ của người đọc, mỗi lần đọc lại sẽ lại thấy ra những vấn đề mới mà lần đọc trước mình chưa thấy ra. Từng bài nói đều tựa như những cầu vồng trọn vẹn đưa người đọc từ những bước sơ cấp nhất đi lên tột đỉnh chứng ngộ. Và không chỉ giảng giải, Osho còn cung cấp và giới thiệu cho mọi người những phương pháp thực hành ngay lập tức với chính tâm trí và con người mình, để đưa họ từ chỗ họ đang đấy lên tới đỉnh cao nhất. Và phương pháp không có gì khác hơn và quan sát, tỉnh táo và chứng kiến mọi việc xảy ra, cả từ bên trong lẫn bên ngoài.
Osho nhấn mạnh mỗi người phải sống có ý thức và phát triển tâm thức mình qua việc tham gia vào cuộc sống vật chất hàng ngày đang diễn ra. Osho không chủ trương xây dựng tôn giáo có tổ chức mới dựa theo lời giảng của mình. Osho phê phán tất cả các hình thức tổ chức (tôn giáo, xã hội…), khi xem xét chúng trong chiều phát triển của tâm thức con người. Mọi tổ chức đều có những qui định kỉ luật ràng buộc con người, và tổ chức phải là như vậy thì mới trở thành sức mạnh vật chất. Nhưng sự phát triển sáng tạo của tâm thức con người bao giờ cũng vượt qua mọi giới hạn kỉ luật của tổ chức. Trong phát triển tâm thức, tới một trình độ nào đó, người ta phải có đủ dũng cảm để tự mình đi một mình bằng chính hiểu biết của mình, không phải dựa vào bất kì ai khác hay bất kì tổ chức nào.
Những điều Osho đã nói ra là những giúp đỡ vô cùng quí báu cho những người tìm kiếm, cho những người đang trên con đường phát triển tâm linh. Tuy nhiên thực sự đây là những lời giảng cao siêu, rất có ý nghĩa và không phải là tất cả mọi người đều có thể hiểu hay đồng ý với quan điểm của Osho ngay lập tức. Người ta thường hiểu mọi vấn đề qua lăng kính hiểu biết hiện tại của chính mình, vì vậy việc hiểu sai hay ngộ nhận rất thường xảy ra xung quanh những bậc thầy tâm linh. Điều này là tất yếu, và bản thân Osho cũng đã phải chịu rất nhiều chỉ trích, phê phán, thậm chí cấm đoán, trù dập và đầu độc bởi sự đố kị thông thường, bởi việc mọi người vẫn hay coi hiểu biết của mình là duy nhất đúng. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu vẫn có những lời chê bai, công kích Osho theo nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng với thời gian và với sự khao khát tìm kiếm chân lí, người tìm kiếm sẽ tìm thấy những điều đích thực trong lời của Osho.
Nhưng để tìm được những hạt kim cương trong lời của Osho, người đọc cần phải mang một tâm trạng vô tư, không e ngại, không thiên kiến, không vồ vập, không dễ dãi. Có thể đọc như dòng sông chảy từ mạch nguồn trên thượng du, băng qua đồng bằng, rồi đổ oà ra đại dương. Cũng có thể nhảy bổ ngay vào những chủ đề mình thấy quan tâm nhất, rồi sau mới chuyển sang các vấn đề khác, không cần trật tự nào. Hãy đi theo tiếng gọi của niềm yêu thích bên trong mình, hãy để cho nguồn mạch băng chảy, đừng đắp đê, cũng đừng khai thông… Điều cơ bản là khi đọc xong rồi đừng bám vào lời nói, hãy đi sâu vào cái vô lời ẩn giữa các dòng chữ, hãy bắt được cái thần, cái ý được ngụ trong đó. Cái còn đọng lại cho người đọc sau khi đã quên tất cả những cái khác, dù đồng ý hay không, miễn làm vỡ ra được vô minh để chiếu sáng vào đời sống của từng cá nhân, thì dùng nó mà ứng xử với đời mình và đồng loại.
Để làm cho những lời của Osho đi gần hơn nữa với con người hiện đại, một số nhà xuất bản tại Mĩ đã làm công việc biên tập, tuyển chọn trích rút những lời nói của Osho trong rất nhiều bài nói theo từng chủ đề một, cung cấp cho bạn đọc cách nhìn nhận mới theo những vấn đề cụ thể, các chủ đề cụ thể của cuộc sống. Những cuốn sách này đương nhiên không cho độc giả cái nhìn thấu suốt từ sơ cấp tới đỉnh cao nhất như bài nói trọn vẹn của Osho, nhưng nó lại phù hợp với trình độ hiện tại của nhiều người. Các quan niệm về tình yêu, về thiền, về sáng tạo, dũng cảm, trưởng thành, nhận biết, thân thể và tâm trí, theo một góc độ nào đó có thể được xem xét độc lập với các khía cạnh khác và cũng nên được giới thiệu như những bước đi đầu tiên vào việc tìm hiểu chính bản thân chúng ta. Những cuốn sách đó được tập trung lại thành loạt sách “Sự sáng suốt về cách sống mới” như: Trưởng thành – trách nhiệm là chính mình, Tủ thuốc của linh hồn, Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong, Dũng cảm: Vui sống hiểm nguy…
Các bạn hãy xem list và link của hơn 80 quyển Sách Osho Việt ngữ dưới đây:


Chúc các bạn thưởng thức từng đêm và tỉnh thức cùng Osho!
Read more

Vài nhận định về Osho

Vài nhận định về Osho


Osho là một chân sư giác ngộ. Ngài hoạt động trên mọi lãnh vực để giúp nhân loại vượt qua những giai đoạn khó khăn trong việc trau dồi tâm thức. (Đức Dalai Lạt Ma)

Sự hiểu biết rộng lớn trong mọi truyền thống tôn giáo và huyền học của Osho được coi là quan trọng nhất hiện nay. Và ảnh hưởng của Ngài càng rộng lớn bao nhiêu thì tín hữu Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo và Do thái giáo càng hiểu rõ hơn về những di sản tâm linh chung của họ bấy nhiêu. Tôi chưa thấy một người nào như Osho, vừa kết hợp vừa hoà giải một cách tài tình những vấn đề tôn giáo, triết học và tâm lý học mà trong nhiều thế hệ con người đã đổ rất nhiều năng lực và tâm óc vào. (Mục sư Richard Cain, Cambridge University, Anh Quốc)

Điều mà ta học từ Osho là gì ? Đó là chìa khoá đưa đến sự giải thoát của con người phải tìm từ tận đáy sâu trong sự huyền bí của chính con người " Hãy biết chính mình " là tiếng gọi của hiền giả xưa nay. Phương pháp mà Osho dùng là phối hợp Tâm lý học của Moslow và Assagioli với Thiền và Yoga. Theo tôi thì Osho là một trong những sứ giả quan trọng mà Thượng Đế gửi đến trong thời đại chúng ta. (C.J.A Tholens, Giám Đốc dòng Benedictine, Hoà Lan)

Osho là một hoá thân quan trọng nhất kể từ Phật Thích Ca đến nay. Ngài là một vị Phật Sống. (Lạt Ma Karmapa, cố trưởng phái Kargyupta)

Osho là một đạo sư rất hiếm có và nhiều biệt tài. Những bài giảng của Ngài về Phật giáo chứa đầy những khái niệm rất mới mẻ và gây nhiều hứng thú. Là một chuyên gia về Phật học mà rất nhiều lần tôi phải kinh ngạc vì những diễn giải vô cùng sáng tạo và mới mẻ của Ngài. Những lời giảng của Osho hoàn toàn phù hợp với những chân lý của Phật Giáo. Ngay cả những cao tăng nổi tiếng nhất hiện giờ của Nhật cũng không thể diễn giảng một cách cao siêu như Osho. (Kazuyoshi Kino, Vice President,Hosen Gakuen College, Japan)

Những người chứng ngộ như Osho là những người vượt lên thời đại của mình. Bây giờ rất nhiều người trẻ tuổi đang đọc những tác phẩm của ông, đây là điều rất đáng mừng. (K.R.Naryanan, cựu tổng thống Ấn Độ)


Osho sẽ được nhớ mãi như là nhà triết học vĩ đại - vị thánh và nhà huyền môn của thế kỷ 20. Cuộc đời và công việc của ông vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng cho những thế hệ tương lai, và thông điệp cốt lõi đầy sức mạnh của ông sẽ giúp chúng ta phát triển các chuẩn mực đạo lý mới trên khắp toàn cầu vì sự phát triển của con người. (Tiến sĩ Manmohan Singh, Thủ tướng Ấn Độ)
Read more

Đôi dòng về Osho

Đôi dòng về Osho


Hầu như tất cả chúng ta đều sống trong hoài niệm quá khứ và kỳ vọng tương lai. Có thể nói rất ít, rất ít ai chạm đến được cái Phi Thời Gian của Hiện Tại - khoảnh khắc khám phá ra cái Đẹp bất ngờ, hay đối diện với sự Hiểm Nguy bất ngờ. Rất ít người có thể bước ra khỏi thế giới của Thời Gian và Tri Thức, của Đam Mê và Tranh Đấu, để sống trong thế giới Phi Thời Gian, Phi Không Gian.
Trong số những người rất ít đó, chỉ có những Thánh nhân đã đạt được tới cái siêu việt "Không - Thời Gian" đó là Đức Phật, Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Lão Tử... và gần đây nhất là George Gurdjieff, Ramana Maharshi, J. Krishnamurti... Khi đương thời, những bậc vĩ nhân này bị mọi người dèm pha cho là kỳ dị hay điên khùng, nhưng sau khi họ chết đi thì họ được tôn xưng là thánh nhân hay triết gia vĩ đại.
Osho là một trong những người rất hiếm có đã mở ra được cánh cửa của phi thời gian của Hiện Tại. Ông ta tự xưng là "người theo thuyết hiện sinh thực sự" và ông đã dành trọn cuộc đời để khuyến khích những người khác hãy tự khám phá lấy chính mình, và bước ra khỏi vòng kiềm tỏa của Qúa Khứ và Tương Lai để sống trong thế giới Hiện Tại bất diệt, vĩnh cửu.
Osho sanh vào ngày 11 tháng 12 năm 1931 tại làng Kuchwada, Madhya Pradesh, Ấn Độ. Từ lúc còn là cậu bé con, Osho đã chứng tỏ cho mọi người thấy ông là một người có cá tánh độc lập, cương quyết và nổi loạn, khăng khăng bảo vệ chính kiến của mình bằng kinh nghiệm tư duy, sống thực thụ chứ không phải đi học mót lại hay lần mò theo tín ngưỡng của người khác.
Sau khi đạt ngộ vào năm 21 tuổi, Osho đã hoàn tất văn bằng Tiến Sĩ và dạy triết vài năm ở Đại Học Jabalpur, Ấn Độ. Cùng thời gian đó, ông đã đi du thuyết khắp nơi ở Ấn tranh luận công khai với nhiều đạo sư các tông phái chính thống khác, cật vấn họ về những tín ngưỡng truyền thống đương thời, và gặp mặt nhiều người từ mọi tầng lớp, chức vụ thượng lưu đến bình dân hạ tiện.
Cuối những năm 60, Osho đã tung ra phương pháp học thiền của chính ông. Ông cho rằng ngày nay người ta bị chèn ép và chất nặng trên vai những truyền thống tập tục, tín ngưỡng của quá khứ và những bất an của đời sống văn minh hiện đại; vì thế người ta cần phải gột rửa trí óc để có thể đi vào trạng thái an nhiên vô niệm của Thiền Định.
Osho nói: "Chỉ có một số rất ít người can đảm thôi mới sẵn sàng chết đi để sống lại thành con người mới. Chỉ có những người can đảm đó mới liều mạng để nghe tôi nói, nói Sự Thật."
Osho từ giã cõi đời vào ngày 19 tháng giêng năm 1990. Cộng đồng những môn đệ của Osho ở Ấn vẫn tiếp tục duy trì theo đường lối của ông và ngày nay nó đã trở thành một trung tâm tu học phát triển tâm linh lớn mạnh nhất thế giới hấp dẫn hàng ngàn người khắp nơi về Ấn thực tập thiền định, điều trị tâm lý, chữa tật bịnh, đề xuất ra những chương trình sáng tạo hay trao đổi những kinh nghiệm tâm linh.
Osho không đến không đi.
Osho chỉ ghé lại hành tinh Địa Cầu này từ năm 1931 đến 1990.
Read more

Thiền sư Osho

Thiền sư Osho
Thiền sư Osho
Một trong các bậc thầy tâm linh được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất vào cuối thế kỉ 20 chính là Osho.
Thế kỉ 20 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ làm nền tảng thúc đẩy sự phát triển của nhân loại trên bình diện vật chất: toàn thế giới đi vào nền kinh tế thông tin và tri thức, xã hội chuyển biến thành xã hội tri thức. Cả trái đất nay đã trở thành như một cái làng, một việc xảy ra ở bất kì ngõ ngách nào trên thế giới thì lập tức toàn thể thế giới đều được biết tới ngay.
Nhưng cũng thế kỉ 20 này còn chứng kiến những phát triển vượt bực nữa của tâm thức con người: việc xuất hiện nhiều bậc thầy tâm linh như Gurdjieff, Ramakrishna, J. Krishnamurti, Osho… với những chỉ dẫn phong phú về sự phát triển của con người mới và nhân loại mới.
Một trong các bậc thầy tâm linh được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất vào cuối thế kỉ 20 này chính là Osho. Nhưng điều mà Osho đã giảng giải trong suốt cuộc đời mình, thực sự cũng chính là những điều mà Phật, Mahavira, Lão Tử, Trang Tử, Jesus… những người chứng ngộ trong quá khứ đã nói.
Con người hiện đại, tuy có tầm mức trí tuệ và suy diễn cao hơn ngày xưa, nhưng hầu hết tập trung vào những vấn đề cuộc sống vật chất bên ngoài và ít khi chú ý tìm hiểu tâm thức bên trong của mình. Osho là người nêu ra vấn đề phát triển tâm thức của từng người ngay trong thực tế sống động đời thường hàng ngày, lấy việc phát triển tâm thức qua việc sống cuộc sống đời thường là trọng tâm.
Về từ nguyên, osho là một từ cổ Nhật Bản, theo nghĩa tiếng Nhật Bản là “Hoà Thượng”, như chúng ta vẫn dùng từ này khi chỉ các nhà sư Phật giáo, mang ngụ ý “Người Hoà hợp với Thượng giới” hay nói cách khác là hoà hợp với toàn thể sự tồn tại.
Một nghĩa khác nữa của từ osho này là “tính đại dương” như đã được Willaim James nêu lên. Cái tên Osho đã được bậc thầy tâm linh Bhagwan Shree Raijneesh (1931-1990) người Ấn Độ, chọn làm tên hiệu chính thức cho mình và đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới.

Phát triển tâm thức con người
Tâm linh theo Osho không phải là hệ thống đẳng cấp các lực lượng tinh thần chi phối thế giới vật chất. Trái lại, theo Osho, tâm linh đích thực chính là sự phát triển tâm thức của mỗi người, để sống một cách hoàn toàn tỉnh táo, có ý thức trong mọi suy nghĩ, hành động, tư tưởng, tình cảm của mình và tham gia vào các hoạt động sáng tạo trong thế giới vật chất.
Sự trưởng thành của con người được đánh dấu bằng việc thoát khỏi rất nhiều tầng đồng nhất tâm thức với thân thể, với tâm trí, với các tục lệ, lề thói xã hội, các ý thức hệ tôn giáo, các mối quan hệ với thế giới xung quanh.
Sự phát triển cao nhất của con người, chứng ngộ, không gì khác hơn việc hiểu ra điều đơn giản là không có cái tôi tách biệt để vun vén cho riêng mình, mà chỉ có một cái toàn thể đang vận hành và chúng ta tham gia cùng sự sáng tạo vĩ đại đó để làm cho mọi thứ tốt đẹp nhất có thể được.
Sự phát triển tâm thức hiện đại hoàn toàn không mang nghĩa như việc tu tập của các tu sĩ thời xưa, chỉ quay vào bên trong mình để phát triển nội tâm mà không đóng góp gì về vật chất cho xã hội.
Theo Osho, con người mới phải là con người sống trong thế giới này, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, nhưng đồng thời vẫn quan sát mọi suy nghĩ và hành động của mình để không bị lệ thuộc cả vào những lực ngầm xui khiến bên trong mình lẫn những lực thúc đẩy mù quáng bên ngoài.
Con người mới phải là con người có cách nhìn toàn diện, thấu hiểu qui luật phát triển của sự tồn tại và hành động theo qui luật đó mà không bị chi phối bởi những ham muốn, những thúc giục của thói ích kỉ cá nhân.
Con người mới phải là con người đã nhìn rõ chân tướng mọi ham muốn của mình và thoát khỏi sự chi phối của nó, để có thể trở thành cây sáo trúc hổng mà tạo hoá thổi qua những điệu nhạc du dương.
Sự phát triển tâm thức là nhiệm vụ của riêng từng người, không ai có thể làm thay người khác được, nhưng có những hướng dẫn, có những chia sẻ của những người đã đạt tới dành cho những ai đang khao khát đi tìm cách sống, ý nghĩa của cuộc sống.
Những hướng dẫn, chia sẻ đó đã được Osho thuyết giảng trong suốt 30 năm, đều đặn mỗi ngày, Osho nói chuyện với các bạn bè và người tìm kiếm trong hai tiếng đồng hồ. Những bài nói đó đã được ghi âm và ghi hình trong quãng 1800 cuộn băng từ, và được dỡ ra, ghi lại thành sách.
Cho tới nay, đã có hơn 600 đầu sách được chuyển lại như vậy từ các thiết bị đa phương tiện. Osho không phải là nhà văn. Ông không viết mà đó toàn là những bài nói trực tiếp cho các đối tượng cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể và vấn đề cụ thể.
Osho đã nói và bình luận về gần như toàn bộ tất cả các tôn giáo chính trên thế giới. Nhiều kinh sách kinh điển, thường rất khó hiểu với người đọc, lại trở nên cực kì dễ hiểu qua giảng giải của Osho vì ông đã dùng ngôn ngữ đời thường, kinh nghiệm của cuộc sống hiện đại để minh hoạ cho những vấn đề có tầm sâu lắng nhất.
Từng bài nói của Osho đều chứa đựng nhiều tầng tri thức và kiến giải, và tuỳ khả năng và trình độ của người đọc, mỗi lần đọc lại sẽ lại thấy ra những vấn đề mới mà lần đọc trước mình chưa thấy ra. Từng bài nói đều là những hình tròn trọn vẹn đưa người đọc từ những bước sơ cấp nhất đi lên tột đỉnh chứng ngộ.
Và không chỉ giảng giải, Osho còn cung cấp và giới thiệu cho mọi người những phương pháp thực hành ngay lập tức với chính thân thể, tâm trí và con người mình, để đưa họ từ chỗ họ đang đấy lên tới đỉnh cao nhất. Và phương pháp không có gì khác hơn là quan sát, tỉnh táo và chứng kiến mọi việc xảy ra, cả từ bên trong lẫn bên ngoài.
Osho nhấn mạnh vào tính cá nhân, mỗi người phải sống có ý thức và tự chịu trách nhiệm phát triển tâm thức mình qua việc tham gia vào cuộc sống hàng ngày đang diễn ra.
Osho không chủ trương xây dựng tôn giáo có tổ chức dựa theo lời giảng của mình. Ông phê phán tất cả các hình thức tổ chức (tôn giáo, xã hội…), khi xem xét chúng trong chiều phát triển của tâm thức con người. Mọi tổ chức đều có những qui định kỉ luật ràng buộc con người, và tổ chức phải là như vậy thì mới trở thành sức mạnh vật chất.
Nhưng sự phát triển sáng tạo của tâm thức con người bao giờ cũng vượt qua mọi giới hạn kỉ luật của tổ chức. Trong phát triển tâm thức, tới một mức độ nào đó, người ta phải có đủ dũng cảm để tự mình đi một mình bằng chính hiểu biết của riêng mình, không dựa vào bất kì ai khác hay bất kì tổ chức nào.

Tháo gỡ khỏi cái kính hiểu biết hiện tại
Những điều Osho đã nói ra là những giúp đỡ vô cùng quí báu cho những người tìm kiếm, cho những người đang trên con đường phát triển tâm linh. Tuy nhiên, đây là những lời giảng cao siêu, rất có ý nghĩa và không phải là tất cả mọi người đều có thể hiểu hay đồng ý với quan điểm của Osho ngay lập tức.
Người ta thường hiểu mọi vấn đề qua cặp kính hiểu biết hiện tại của chính mình, vì vậy việc hiểu sai hay ngộ nhận rất thường xảy ra xung quanh những bậc thầy tâm linh, khi mà người ta chưa tháo gỡ cái kính đó ra. Điều này là tất yếu, và bản thân Osho cũng đã phải chịu rất nhiều chỉ trích, phê phán, thậm chí cấm đoán, trù dập và đầu độc bởi sự đố kị thông thường, bởi việc mọi người vẫn hay coi hiểu biết của mình, đôi kính của mình, là duy nhất đúng.
Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu vẫn có những lời chê bai, công kích Osho theo nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng với thời gian và với sự khao khát tìm kiếm chân lí, người tìm kiếm sẽ tìm thấy những điều đích thực trong lời của Osho.
Nhưng để nhận ra được những hạt kim cương lấp lánh trong lời của Osho, người đọc cần phải mang một tâm trạng vô tư, không nghi ngại, không thiên kiến, không vồ vập, không dễ dãi.
Có thể đọc lời Osho như dòng sông chảy từ mạch nguồn trên thượng du, băng qua đồng bằng, rồi đổ oà vào đại dương. Cũng có thể nhảy bổ ngay vào những chủ đề mình thấy quan tâm nhất, rồi sau mới chuyển sang các vấn đề khác, không cần trật tự nào. Hãy đi theo tiếng gọi của niềm yêu thích bên trong mình, hãy để cho nguồn mạch tuôn chảy, đừng đắp đê, cũng đừng khai thông.
Điều cơ bản là khi đọc xong rồi đừng bám vào lời nói, hãy đi sâu vào cái vô lời ẩn giữa các dòng chữ, hãy bắt được cái thần, cái ý được ngụ trong đó. Đừng bị lệ thuộc vào những mô hình, hệ thống, cách giải thích logic mà hãy đi vào cái trực cảm, cái cảm nhận chợt trào ra bên trong chúng ta, cái chẳng lệ thuộc gì vào những giải thích logic cả.
Cái còn đọng lại trong người đọc, sau khi đã quên tất cả những lời nói, dù đồng ý hay không, cái làm vỡ ra vô minh để chiếu sáng vào đời sống của chúng ta mới là điều quan trọng nhất. Và hãy dùng nó mà sống, mà ứng xử với đời mình và đồng loại, để tự mình làm biến đổi mình, để sống một cách hồn nhiên, tự phát, không bị lệ thuộc vào bất kì thói quen hay ý tưởng nào.
Để làm cho những lời của Osho đi gần hơn nữa với con người hiện đại, một số nhà xuất bản tại Mĩ đã làm công việc biên tập, tuyển chọn trích rút những lời nói của Osho trong rất nhiều bài nói theo từng chủ đề một, cung cấp cho bạn đọc cách nhìn nhận mới theo những vấn đề cụ thể, các chủ đề cụ thể của cuộc sống.
Những cuốn sách này đương nhiên không cho độc giả cái nhìn thấu suốt từ sơ cấp tới đỉnh cao nhất như bài nói trọn vẹn của Osho, nhưng nó lại phù hợp với trình độ hiện tại của nhiều người. Các quan niệm về tình yêu, về thiền, về sáng tạo, dũng cảm, trưởng thành, nhận biết, thân thể và tâm trí, theo một góc độ nào đó có thể được xem xét độc lập với các khía cạnh khác và cũng nên được giới thiệu như những bước đi đầu tiên vào việc tìm hiểu chính bản thân chúng ta.
Những cuốn sách đó được tập trung lại thành loạt sách “Sự sáng suốt về cách sống mới” như: Trưởng thành – trách nhiệm là chính mình, Tủ thuốc của linh hồn, Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong, Dũng cảm: Vui sống hiểm nguy
Chúng ta cũng là một phần của thế giới, nhân loại, cho nên những điều đang là mối quan tâm về văn hoá, cách sống, giá trị con người trên thế giới cũng chính là mối quan tâm của chúng ta.
Thông qua việc giới thiệu những cuốn sách này, độc giả sẽ được cung cấp thêm cách nhìn “thoát ra ngoài hộp” để soi rọi vào chính bản thân mình, cách nghĩ đối lập với những quan điểm đã quá quen thuộc của mình. Mọi sáng tạo và cái mới chỉ có thể tới được trên cơ sở cách nhìn nhận mới, cách nghĩ mới, không theo lối mòn cũ.
Lời giới thiệu quyển “Từ thuốc tới thiền” - Osho, dịch giả Ngô Trung Việt
Read more

Osho là ai? (Tiếp theo)

Osho là ai? (Tiếp theo)



Osho là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi
Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư.
Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. Nhưng có lẽ điều này nằm trong ý đồ đích thực của một con người “nổi loạn” như ông.
Nhân cách của Osho có một sức thu hút mãnh liệt, nó biểu hiện trong những bài luận giải xuất chúng của ông về mọi vấn đề tôn giáo và triết học, kể cả về các bộ kinh lâu đời nhất mà nhiều vị luận sư đã dày công trình bày. Những ai đã gặp ông đều thừa nhận Osho có một tài hùng biện đầy ma lực, một sự hấp dẫn cá nhân mà người nghe hầu như không thể cưỡng lại. Song song với những công trình luận giải vĩ đại đó thì tập thể quần chúng và đệ tử do ông hướng dẫn lại gây nên rất nhiều tai tiếng, thậm chí có kẻ trở thành tội phạm.
Sự thật về con người Osho nằm ở đâu? Thiết nghĩ khó có ai trả lời được và điều này có thể cũng lại nằm trong chủ đích của chính ông. Chính ông cũng nói về triết học của mình là một thứ triết học phi triết học (philosophy of no philosophy). Tuy thế, một khi độc giả đã cầm quyển sách này trong tay, một lời dẫn nhập ngắn nhằm giới thiệu con người và quan niệm của Osho có lẽ sẽ giúp độc giả hiểu được một phần con người kỳ dị này của thế kỷ trước. Đó là mục đích của bài này.
Trước hết, trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có một quan niệm Nhất thể (Monism) về vũ trụ. Đối với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa “Thượng đế” và “phi Thượng đế”. Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là “Thượng đế” đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá.
Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment). Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế.
Với nhận thức này, Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ “Tâm bình thường là đạo” của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ. Nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Kỳ-na giáo (Jainism), Ấn Độ giáo, Lão giáo, Cơ-đốc giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân.
Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tuỷ của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái “nằm ngoài tâm”. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn.
Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép toạ thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực (Active Meditation) và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rũ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra, ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất. Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và cử hành tế lễ. Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của Không tính (state of emptiness) và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là “không” thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là “phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất”.
Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên. Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng, biết chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng “đối tượng đam mê” và “người đam mê” đều chỉ là những dạng của “Không”, họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương “chuyển hoá” năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestalt Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng.
Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên, vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục.
Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ Dục tới Siêu Tâm Thức (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là “đích thực và đầy ý thức” như ông giảng giải, là một vấn đề khác. Thật ra phần nói về tình dục chỉ là phần nhỏ trong cuộc đời thuyết giảng của ông nhưng kể từ đó người ta gọi ông là “đạo sư tình dục” (sex-guru) và gọi chủ trương của ông là “tự do tình dục”.
Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái (bhavatrsna), tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự.
Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hoá chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hoá, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hoá năng lực của tình dục. Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.
Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng đế cả, không có gì là không thiêng liêng.
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của một người được mệnh danh là “nổi loạn” như ông, nhưng những gì ông hứng chịu trong cuối đời do chính đệ tử của ông gây ra cho thấy nhiều học trò của ông xem ra không hề “thiêng liêng” gì cả. Phần lớn môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông, làm giàu trên lòng tin ngây thơ của người khác. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hoá một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. Vì thế khi ông đã lỡ nổi danh là một “sex-guru”, ta có thể đoán biết thành phần và mục đích của những người hướng về ông. Quả thực sau khi ông mất, không có ai đủ sức trình bày một bài thuyết giảng cho xứng đáng là người đã từng theo học với ông.
Ông mất đi trong sự tan rã của phong trào theo học giáo phái Osho, nhưng có lẽ một con người như ông không có gì để tiếc nuối vì như ông nói, ông “chỉ là một đám mây”, đến chơi với trần thế trong một thời gian ngắn ngủi. Thế nhưng, hơn 15 năm sau ngày ông mất, người ta vẫn tìm đọc Osho vì trong sách báo của ông để lại, quả thực có một điều gì có giá trị nội tại, quả thật đây là những lời nói của một con người phi thường. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy phương pháp thiền định của ông không phải dành cho tất cả mọi người. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta phát hiện lại một câu nói giản đơn của một người hẳn đã biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. “Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa”. Đó là lời của Đạt-lai Lạt-ma thứ V (1617-1682). Các đệ tử của Osho không hề là những người như thế. Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết.
Chỉ Osho mới biết mình thành công hay thất bại, nhưng ông lại không màng đến nó. Ông chỉ thấy phải nói, phải làm những cái đáng nói, đáng làm. Nếu đọc cuốn sách này, ta sẽ biết tính khí của ông và đoán có thể tất cả đều nằm trong chủ đích của ông. Có thể ông đã thấy rõ đời mình phải làm ầm ĩ lên như một người điên thì mọi người mới chịu chú ý nghe những gì mình nói, nếu không tất cả sẽ chìm trong quên lãng trong một thế giới quá nhiều thông tin. Và tác phẩm đang nằm trong tay bạn đọc có lẽ đang chứng minh điều đó.
Hết
Lời giới thiệu cho quyển "Cuộc đời của Luận sư Osho" - Nguyễn Điệp Hoa
Đỗ Tư Nghĩa sưu tầm & biên dịch, NXB Trẻ.
Read more

Osho là ai?

Osho là ai?


Khoảng những năm 95 -98, những người quan tâm và tìm kiếm về tâm linh bắt đầu đưa cho nhau đọc những bản copy không rõ ai dịch, không rõ từ đâu, nhưng những lời lẽ trong cuốn sách đầy mê lực và có sức thức tỉnh lòng người vô cùng mạnh mẽ.
Cái tên Osho được biết đến có lẽ từ đó, hay từ trước đó một chút nữa ở Việt Nam. Rất ít người khi đó biết được rằng con người vĩ đại và đầy phi thường chỉ mới qua đời năm 1990.
Ông gần như sống cùng thời đại với chúng ta, tiếc rằng, chỉ gần đây, khi hàng chục cuốn sách của Osho được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì chúng ta cũng mới biết nhiều đến ông với những tư tưởng vĩ đại và đặc sắc.
Osho tên thật là Rajneesh Chandra, sinh năm 1931 tại một ngôi làng nhỏ ở miền trung Ấn Độ. Ông được coi là một trong những đại diện tư tưởng xuất sắc nhất mọi thời đại. Có những đánh giá nói rằng Đức Phật đã trở lại trái đất sau 25 thế kỷ qua ông, rằng ông là một kẻ “nổi loạn” và là kẻ “nguy hiểm nhất” chỉ sau Jesus. Nhân loại vừa yêu ông, vừa sợ ông. Ông giống như ánh hào quang làm hoảng sợ và chói mắt những kẻ nô dịch người khác bằng mọi tư tưởng và luận thuyết cứng nhắc, giáo điều, nhưng bản thân lại đầy ý thức nô lệ. Mục đích của các thông điệp của ông là nhằm đánh thức nhân loại đang trong cơn mê của những sự nhầm lẫn căn bản nhất về ý nghĩa của sự tồn tại của con người. Sự xuất hiện của Osho và tư tưởng của ông giống như một dự báo về một nhân loại mới, về một thời đại mới mà ở đó, tất yếu con người phải “trở về”, phải tìm thấy sự hợp nhất với hiện hữu, với chân lý. Osho dường như đã xuất hiện như một người thầy dẫn đường.
Osho có nét của một nhà truyền giáo, nhưng bản thân ông không theo một tôn giáo nào. Khi còn nhỏ, 7 năm đầu đời, ông sống với ông bà ngoại và không hề đến một trường lớp nào. Nhưng chính trong một môi trường “vô giáo dục” như thế – điều được ông coi là một phúc lành, một tư tưởng vĩ đại nhất đã chạm đến tâm hồn còn như một trang giấy mới trắng tinh của cậu bé Rajneesh Chandra: “Tôi đảnh lễ dưới chân những ai đã biết chính mình…” qua bà ngoại của cậu, một phụ nữ chân quê, thất học, nhưng đầy sáng suốt.
Toàn bộ tư tưởng của Osho đều được xoay quanh điều quan trọng nhất này: Biết chính mình. Ông nói: “Tính tâm linh, đối với tôi, đơn giản chỉ có nghĩa là phát hiện chính mình.
Osho dành cả đời mình để chỉ làm một việc: Giúp mọi người, và về sau là giúp “những kẻ tìm kiếm” phát hiện chính mình. Đây cũng chính là hạt nhân trong tư tưởng của ông. “Biết chính mình”, hay biết “tôi là ai” là câu hỏi của bản thân mỗi người và họ phải tự đi con đường của mình để trả lời câu hỏi này. Câu hỏi đơn giản, nhưng quan trọng nhất này cũng là câu hỏi khó nhất bởi vì nó chạm tới bản thể của con người. Trả lời câu hỏi này đòi hỏi cả một hành trình dài đằng đẵng, nhiều kiếp, bởi vì đơn giản là qua quá nhiều triệu kiếp, con người đã đi sai đường. Thay vì đi vào trung tâm, nó ngày càng đi ra ngoại vi. Một trong những sai lầm lớn nhất của con người, theo Osho, là nhầm lẫn về thể xác và tâm trí. “Bạn không phải là tâm trí bạn, bạn cũng không phải thân thể bạn”, ông nói. Vì thế, ông hướng dẫn đầu tiên bạn phải học nhận ra cơ thể bạn không phải bạn, rồi sau đó, mới đến tâm trí. Thể xác và tâm trí sẽ mất đi, nhưng bạn thì vĩnh cửu. Vì vậy, cái vĩnh cửu này, hay cái bản thể, hay chân lý phải được tìm ra, hay nói khác đi, “bạn phải trở về nhà”. Một khi trở về, bạn nhận ra mình là một phần của cái toàn thể, bạn là một với hiện hữu, bạn đã tìm thấy Thượng đế.
Triết học của Osho không phải là để nghiền ngẫm mà để thực hành. Để “trở về”, thiền định là phương tiện chính, là then chốt. Ông nói: “Thiền định không là gì khác ngoài sự rút lui của mọi loại rào chắn – những tư tưởng, cảm xúc, tình cảm – những cái tạo ra bức tường giữa bạn và hiện hữu. Cái khoảnh khắc chúng rơi rụng đi, bạn đột nhiên tìm thấy chính mình hòa điệu với cái toàn bộ. Không chỉ hòa điệu, bạn thực sự là một với cái toàn bộ.” Osho đưa ra 112 phương pháp thiền, trong đó thiền động được coi là một phương pháp hết sức độc đáo. Nguyên lý của thiền động đơn giản là bạn phải tập trung vận động điên cuồng trong một thời gian ngắn để tống hết tất cả những rác rưởi dồn ứ trong bạn, những lo âu, phiền muộn, âm mưu, hằn thù, oán giận, căng thẳng… ra ngoài, rồi sau đó bạn mới có thể tĩnh lặng. Nơi chứa chấp tất cả những rác rưởi, tạo thành lớp lớp rào cản, như những đám mây dày đặc che kín bầu trời này, chính là tâm trí con người. Ở đây, bạn phải học để nhận ra tâm trí bạn chẳng phải cái gì khác mà chính là cái bản ngã, được làm nên bởi những rác rưởi, dục vọng, ham muốn của con người. Cả những cái gọi là “tri thức”, hãy tự hỏi xem, có cái gì từ bạn mà ra không, hay nó là từ ngoài đi vào? Nếu bạn có tri thức, bạn sẽ chỉ là học giả, nhưng bạn sẽ mãi mãi không là một người thông minh và trí tuệ, bởi vì sự sáng suốt, trí tuệ thật sự là cái đi từ bên trong ra. Chỉ khi nào những đám mây dày đặc của những cái không phải của bạn, không phải là bạn, tan đi thì mặt trời mới hé rạng, giọt nước đã hòa vào đại dương, bạn mới tìm thấy mình; hay chỉ khi bạn từ chối chính bạn, khi bạn biến đi, thì hiện hữu lao về phía bạn, đi vào bạn – theo diễn đạt của Osho. Khi đám mây tan đi, bạn mới thấy được sự thật. Một ví dụ để hiểu cái nhìn của ông: “Ông là ai?” – câu hỏi của một nhà báo. Trả lời: Nếu bạn không nhìn tôi với sự trống rỗng trong bạn thì câu trả lời của tôi cho bạn là vô ích. Nó sẽ chỉ là sự phản ánh chính bạn thôi. Bạn soi tôi để thấy chính bạn thôi, chứ không thấy tôi. Nếu tôi trống rỗng, bạn trống rỗng thì đó sẽ là hai tấm gương soi vào nhau và chúng ta sẽ thấy nhau.
Từ nguyên lý nhất thể xem con nguời là một phần của hiện hữu, Osho đã xem xét và thuyết giảng về những vấn đề căn bản liên quan tới tâm linh như sự sống, cái chết, sự bất tử, tự do, tình yêu, tình dục… và rất nhiều vấn đề xã hội khác, từ đó ông hướng dẫn các giá trị sống đích thực cho con người. Mặc dù tiếp thu rất nhiều giá trị tư tưởng, văn hóa và tôn giáo Ấn Độ, Osho không theo một tôn giáo nào. Ông không chia sẻ các quan niệm về sự tồn tại của Thượng đế, hay Đấng sáng tạo. Ông dùng các từ ngữ “Thượng đế”, “tôn giáo”… chỉ để tải các tư tưởng của chính ông. Một trong những điểm ông phê phán mạnh mẽ nhất ở các tôn giáo là con người thường bị xem như kẻ tội lỗi và vì thế phải được dẫn dắt để gột sạch tội lỗi trong kiếp sống này. Ông phê phán gay gắt việc nhiều tôn giáo coi cuộc sống trên trái đất chỉ là nơi chuẩn bị cho một thế giới khác sau cái chết. Tinh thần của Osho hoàn toàn ngược lại. Ông coi cuộc sống là một trải nghiệm quý giá, một cơ hội, một lễ hội, con người phải hân hoan, vui sống. Khi bạn hết lòng với giây phút hiện tại, quá khứ và tương lai không còn chỗ trong tâm trí bạn. Nó không có khả năng dựng rào cản trong tâm trí bạn nữa. Cuộc sống là ở đây, giây phút này. Những lớp học thiền định của Osho duy nhất là nơi học viên được vui chơi, nhảy múa, ca hát, tràn đầy âm nhạc, vũ điệu, hoan hỉ… trước khi đi vào tĩnh lặng. Tìm ra chính mình, con người cũng sẽ cảm nhận được Thượng đế trong bản thân mình, hay nói theo Osho, đó là tính tôn giáo, tính Thượng đế. Với Osho, không có Thượng đế, chỉ có tính Thượng đế, không có tôn giáo, chỉ có tính tôn giáo.
Một trong những vấn đề căn bản Osho bàn tới – đó là tự do. Tự do trong tư tưởng của ông về cơ bản là tự do thoát khỏi cái “tôi”. Cái “tôi” hay bản ngã chính là cái tạo ra xiềng xích. Một khi thoát khỏi cái “tôi”, con người mới thực sự có tự do, và nhờ đó tràn đầy tình yêu. Nên, xem xét tự do với Osho cũng đồng thời là xem xét tình yêu đích thực là gì. Theo Osho, tình yêu không phải là cái đến ở bên ngoài, không phải là cái ta đòi hỏi được và xin được. Tình yêu là kho báu, là suối nguồn từ bên trong của mỗi con người. Nhưng kho báu này bị che giấu bởi cái “tôi”, bởi bản ngã của con người. Khốn thay, chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta biết về tình yêu. Một khi nghĩ rằng mình biết rồi, ta không đi tìm nó nữa. Nên Osho dạy rằng trước tiên phải hiểu là ta chẳng biết gì về tình yêu cả. (Có ai trong chúng ta đủ dũng cảm để nói rằng tôi chẳng biết gì về tình yêu?) Chỉ những người đã vượt qua khỏi sự cần thiết phải đòi hỏi tình yêu mới bắt đầu đi trên con đường tình yêu đích thực – con đường cho đi tình yêu. “Tình yêu nghĩa là cho đi, nó không hề biết gì về đòi hỏi”, rằng ‘Tình yêu mà đòi hỏi thì không phải là tình yêu”, “Tình yêu chỉ tìm đến cánh cửa mà sự thèm muốn đã biến mất”. Tình yêu là âm nhạc nội tại con người của bạn, là sự nở hoa bên trong. Nhưng, sự nở hoa sẽ không thể diễn ra bởi cái “tôi”. Chừng nào trong mỗi con người còn tràn đầy tiếng ồn của cái “tôi” thì chừng đó tình yêu còn không thể hiển lộ. Ánh sáng và bóng tối không thể tồn tại cùng nhau. Theo cùng cách ấy, tình yêu và bản ngã không thể tồn tại cùng nhau. Vì bên trong ta không có tình yêu nên cái “tôi” vẫn liên tục vang lên. Nên kẻ nào có cái ngã toàn bộ, tình yêu sẽ chết hoàn toàn trong hắn. Bạn cũng có thể nói bản ngã cũng yêu, nhưng tình yêu xuất phát từ bản ngã là tình yêu giả tạo, nó sẽ sớm trở thành xiềng xích – bộ mặt thật của nó. Nó là mưu mẹo về sự sở hữu. Một lần nữa, Osho nhất quán với tư tưởng hạt nhân của ông về “trở thành chính mình” khi ông tuyên bố: “Chẳng ai có thể tìm kiếm được cái thiêng liêng siêu phàm bởi vì hắn không có khả năng như thế. Nhưng đến khi có người nào đó trở nên sẵn sàng biến mất, đã trở nên sẵn sàng chẳng là gì cả, sẵn sàng biến thành cái không, thế thì cái thiêng liêng, siêu phàm chắc chắn sẽ tìm đến hắn. Chỉ có cái thiêng liêng là có thể tìm kiếm con người, con người không bao giờ có thể tìm kiếm cái thiêng liêng ấy, bởi ngay khi tìm kiếm thì bản ngã đã có mặt…”. Chỉ “Cái ngày mà hắn không tồn tại, ngày đó cánh cửa che dấu tình yêu sẽ mở ra cho hắn”. Vậy thì cái bản ngã, cái “tôi” ấy là cái gì, nó ở đâu, và nó là ai. Theo Osho, “tên” (như Hùng, Hiền chẳng hạn) và “tôi” – đó chẳng qua là những tiện ích xã hội để phân biệt bạn với người khác, nó chỉ mang chức năng nhãn hiệu, là hai mặt của đồng tiền. Tên để thấy được từ bên ngoài, và tôi thấy được từ bên trong. Nhưng nhầm lẫn đã dẫn đến ảo tưởng về giá trị của tên và “tôi”. Bao lâu cái ảo tưởng này còn tồn tại thì không gian dành cho tình yêu vẫn không được mở ra. Như vậy, suy cho cùng, tình yêu cũng là một hình thức của ý thức về bản thể, về nhất thể, về bản tính vũ trụ, bản tính Thượng đế của con người. Tình yêu chỉ có toàn bộ khi con người phát hiện ra chính mình.   
Một trong những quan niệm đặc sắc của Osho là về tình dục. Đó là lĩnh vực hầu hết mọi tôn giáo, mọi xã hội đều né tránh. Chính sự né tránh này đã dẫn đến sự ghìm nén tình dục và đây là nguồn gốc dẫn đến những nhận thức méo mó, sai lệch về nó. Vượt qua những sự méo mó này, Osho đã xem xét vấn đề tình dục một cách toàn diện, sâu sắc và mới mẻ. Theo ông, vì đây là nguồn sinh lực tự nhiên của con người nên nếu bị đè nén, như dòng sông, nó tất sẽ bị lệch dòng. Tình dục là nấc thang thấp nhất của quá trình tìm ra chính mình. Bạn có thể cảm nhận khoảnh khắc phi ngã, phi thời gian, khi đạt tới đỉnh điểm của khoái cảm. Nếu bạn ý thức và quan sát được giây phút này, bạn sẽ thoát khỏi tình dục. Ba cấp độ của tình dục, theo Osho, là tình dục gắn với thể xác, tình dục gắn với tình yêu và tình dục gắn với thiền. Tình dục gắn với thể xác là khi con người bất hạnh và chạy trốn – nó tìm đến tình dục. Tình dục và tình yêu là mức độ cao hơn của sự hòa hợp hai tâm hồn. Ở đây, ngay cả trong hôn nhân, Osho quan niệm rằng nếu một người sử dụng người kia, ham muốn thân xác mà không có tình yêu thì cũng chẳng khác gì mại dâm. Tình dục ở cấp độ ba là một cánh cửa dẫn tới thiền. Càng thỏa mãn bao nhiêu, con người ở cấp độ này càng sớm rời bỏ tình dục bấy nhiêu để đi đến một nấc thang cao hơn của hành trình tâm linh. Theo cách này, Osho dự đoán nhân loại sẽ phát triển đến giai đoạn con người “đủ” tình dục, nó sẽ từ bỏ và sẽ dẫn tới tình trạng độc thân. Nhân loại mới sẽ dần dần không ra đời theo quan hệ tình dục nam nữ nữa, mà theo một cách khác. Osho bị phê phán và chỉ trích dữ dội từ phía các nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị, văn hóa… vì những luận điểm của ông về tình dục, nhưng thế kỷ 21 đang hé lộ rằng những dự đoán của ông đang thành hiện thực.
Tuy đưa ra rất nhiều thông điệp và lời chỉ dẫn, nhưng Osho thực ra không viết sách. Toàn bộ mấy trăm tác phẩm của ông là tập hợp của hàng nghìn các bài nói chuyện ở khắp nơi trên thế giới và tại Ấn Độ, trong đó mỗi câu ông nói, mỗi dòng được ghi lại, đều chứa đựng thông tin. Hùng biện, giản dị nhưng đầy cuốn hút và thông tin dày đặc – đó là phong cách Osho. Bạn phải suy nghĩ trên mỗi dòng, mỗi trang khi đọc ông. Lý do không viết gì của Osho là ông không muốn mọi người bám lấy, hay lụy vào những điều ông nói. Ông thuyết giảng, nhưng ông nói ông không có học thuyết nào, triết học nào, tôn giáo nào… Mỗi người là duy nhất và họ phải trải qua hành trình của chính mình. Cũng như Đức Phật, ông chỉ chỉ trăng thôi, mọi người phải hướng đến mặt trăng mà quên ngón tay chỉ trăng của ông.
Con đường truyền thông cho loại “tôn giáo không có tôn giáo” theo cách nói của ông là một con đường gập ghềnh. Ông từng học triết, trở thành giáo sư đại học, rồi trở thành một đạo sư lang thang. Ông đã đi từ chứng ngộ cá nhân đến truyền đạt cho những đám đông hàng chục nghìn người, rồi cuối cùng chỉ dừng lại ở những nhóm nhỏ của những người mà ông nhận ra họ đang thực sự tìm kiếm. Ông phản đối việc thành lập một tổ chức, một tôn giáo sau lưng ông. Ông từng được chào đón, nhưng cũng từng bị xua đuổi ở nhiều quốc gia, kể cả Ấn Độ, vì ông dám đặt những câu hỏi có sức công phá đến tận gốc rễ và lật đổ những tà thuyết có sức sống hàng nghìn năm, những truyền thống văn hóa hủ bại, những sự dối trá, những sự nhầm lẫn ghê gớm của loài người… Ông thách thức những nền tảng vững bền được bảo vệ bởi các thể chế cùng vô số các nhà tư tưởng và tâm linh qua hàng nghìn năm, và vì thế, nhiều kẻ muốn giết ông như người ta đã từng đóng đinh Jesus, đầu độc Socrate (nhà triết học Hi Lạp cổ đại)… Ngay cả với Đức Phật, ông cũng cương quyết từ chối “phải nằm nghiêng bên phải, tay kê đầu” – thiền trong khi ngủ đêm – và cầm bình bát khất thực. Cả cuộc đời của Osho là một hành trình liên tục thực hành và thay đổi cách làm, xuất phát từ một thời đại thay đổi nhanh chóng và con người đã đạt tới tiện nghi cao về vật chất, khoa học phát triển mạnh mẽ… nhưng nhân loại ngày càng bế tắc hơn trong lĩnh vực tinh thần.
Osho từ biệt cõi đời nhẹ nhàng, từ chối cấp cứu. Cái chết của ông được cho là do nguyên nhân bị đầu độc bằng thallium, một chất hủy hoại hệ miễn dịch, trong thời gian ông bị bắt vô cớ và bị chuyển qua 6 nhà tù liên tiếp chỉ trong vòng 12 ngày tại Mỹ.
Điều kỳ diệu là toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp đồ sộ của con người vĩ đại này giúp chúng ta không phải học hỏi về ông, mà là học hỏi về chính mình.
Lời giới thiệu cho quyển "Cuộc đời của Luận sư Osho" - Nguyễn Điệp Hoa
Đỗ Tư Nghĩa sưu tầm & biên dịch, NXB Trẻ.
Read more